TƯỢNG GỖ TÂY NGUYÊN - MỘT VÀI VẤN ĐỀ CẦN TRAO ĐỔI
18/10/2016
Lâu nay, cứ nói đến tượng gỗ dân gian Tây Nguyên là rất nhiều người nhầm tưởng chúng chỉ trưng bày ở nhà mồ và chúng ta mặc định cho nó tên gọi TƯỢNG MỒ. Thực tế cho thấy các cộng đồng cư dân tại chỗ ở Tây Nguyên có một nền điêu khắc dân gian rất phong phú, biểu hiện nhiều nhất là tượng. Ở nhà Rông, nhà sàn, nhà ở, nhà mồ đều có thể gặp tượng như một hình thức trang trí. Riêng ở khu vực nhà mồ, ngoài chức năng làm đẹp, tượng còn có chức năng thể hiện đời sống tâm linh, quan niệm tín ngưỡng về sự sống – chết nên tượng phong phú hơn.
 
Do điều kiện kinh tế, môi trường sống, phong tục tập quán nên trong lễ bỏ mả, con người mới có thời gian, điều kiện để làm tượng nhiều nhất ở nhà . Vì vậy trong lễ bỏ mả, ở nhà mồ thường có số lượng, đề tài tượng nhiều hơn hẳn. Nhưng như thế không có nghĩa là các tượng mang tính năng nghệ thuật như hình ảnh các thiếu nữ, chân dung các bà mẹ, chàng trai, hình ảnh các sinh hoạt trong đời sống hàng ngày như giã gạo, đánh chiêng, gõ trống, hút thuốc, bế em/con/cháu… không thể đem trưng bày ở những không gian khác, cộng đồng khác. Người ta chỉ kiêng cữ một số rất ít đề tài tượng. Ví dụ nhóm tượng phồn thực, nhóm tượng thể hiện sự buồn nhớ, tiếc thương thì chỉ làm trong những dịp bỏ mả và đặt ở nhà mồ. Ở nhà rông, nhà sàn, nhà ở… thì thường đặt các nhóm tượng muông thú, hoa quả, đồ vật, tượng mô tả cảnh sinh hoạt đời sống... Chính vì tượng gỗ dân gian mang đầy đủ giá trị của một tác phẩm nghệ thuật nên đương nhiên con người sử dụng nó như một phương tiện làm đẹp. Hiện nay, tượng có thể được trưng bày trong khuôn viên nhà ở, khuôn viên nhà hàng, khách sạn, công sở, công viên, khu du lịch sinh thái.v.v… Đó như là điều tất yếu. Chúng ta mừng cho tượng gỗ dân gian đã vượt ra đời sống buôn làng, xứng đáng với chức năng, giá trị làm đẹp của mình trong cuộc sống vật chất và tinh thần không chỉ của đồng bào dân tộc thiểu số địa phương mà của cả các dân tộc anh em khác.
 

 
          Tuy là tượng gỗ nhưng mỗi cộng đồng, mỗi vùng miền có cách thể hiện khác nhau. Có nơi làm tượng rất to. Cả đầu, thân, đế là một tượng hoàn chỉnh. Có nơi chỉ làm tượng rất nhỏ. Đế là một thân gỗ dài. Có nơi để tượng mộc mạc, vẹn nguyên  màu gỗ. Có nơi lại tô vẽ tượng bằng những màu đen, đỏ, trắng, xanh… Điều này phụ thuộc vào môi trường sống (nơi có nhiều gỗ, dễ tìm vật liệu hoặc nơi ít gỗ, khó tìm) hoặc do ý thích của cư dân vùng đó (người Jrai thích để tượng nguyên màu gỗ, người Bahnar ở Kbang, An Khê, Kong Chro thường thích tô màu cho tượng). Ngay từ xa xưa, nhiều cộng đồng cư dân tại chỗ đã thích điểm tô màu sắc bằng cách lấy lá, vỏ, rễ cây để làm màu xanh, đỏ, lấy than, tro bếp để làm màu đen, xám. Điều này rất dễ thấy trong việc nhuộm chỉ dệt hoặc trang trí nhà mả, vách nhà rông. Ngày nay, cuộc sống hiện đại có sẵn các loại sơn nên việc dùng sơn tô màu cho tượng cũng là điều rất bình thường. Người làm tượng vẫn dùng loại màu đỏ, đen, xanh, trắng nguyên vẹn (không pha trộn) để làm đẹp tác phẩm của mình.
          Tượng gỗ dân gian là một loại hình nghệ thuật nên người làm ra nó cũng như một nghệ sỹ vậy. Trước tiên, họ phải có một chút “năng khiếu” trời cho, nghĩa là có niềm yêu thích việc đục đẽo, có cái nhìn để biết thế nào là đẹp. Nếu không có điều đầu tiên này thì dù có cha chú, anh em, họ hàng là nghệ nhân giỏi cũng không thể “cầm tay chỉ việc” truyền nghề được. Sau đó, qua quá trình học hỏi, cọ sát với môi trường, người nghệ sỹ dân gian mới dần nâng cao tay nghề, mới càng ngày càng tạo ra được những bức tượng tinh xảo hơn, có hồn hơn. Ngày xưa, còn rừng, còn gỗ, còn nhiều lễ bỏ mả nên người làm tượng có nhiều cơ hội để thể hiện tác phẩm. Ngày nay, rừng ít, gỗ ít, nhiều nơi không còn lễ bỏ mả, người làm tượng không được thường xuyên cầm rìu, dao, rựa làm tượng nữa.  Không “ văn ôn, võ luyện” thì các nét đục đẽo trở nên khô cứng. Vì vậy không còn nhiều tượng tinh xảo, có hồn như ngày xưa cũng là điều dễ hiểu. Hơn nữa sự giao lưu tiếp biến văn hóa với các dân tộc anh em sống cùng trên địa bàn cư trú cùng là nguyên nhân tượng gỗ dân dân hôm nay khác với 30-50 năm về trước. Đó là lẽ tất yếu, quan trọng là nó đang còn và giá trị của nó không thể thay thế trong đời sống các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Gia Lai, Tây Nguyên.
          Chúng ta đang tìm nhiều cách để bảo tồn, phát huy giá trị của tượng gỗ dân gian Tây Nguyên. Muốn làm tốt điều này, trước tiên phải hiểu đúng về nó thì mới tìm được những giải pháp thiết thực, hữu hiệu.
 
                                                                                                                                    Nguyễn Thị Thu Loan
bieutuongdulich-(2).png




Copyright © 2012 Bản quyền thuộc về Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai
Phát triển bởi Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Gia Lai.
Chịu trách nhiệm: Phan Xuân Vũ - Giám đốc Sở, Trưởng Ban biên tập
Điện thoại:  0269.3824399  -  Fax:  0269.3715058
Email: vhttdlgialai@gmail.com (nhận tin bài)
hoặc svhttdl@gialai.gov.vn (nhận công văn)
Giấy phép số: 06/GP-TTĐT Ngày 01 tháng 7 năm 2016  của Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Gia Lai.