TÍNH NHÂN VĂN TRONG LỄ BỎ MẢ (PƠTHI) CỦA NGƯỜI JRAI
Lễ bỏ mả (pơthi) là gồm những nghi lễ cuối cùng trong vòng đời người, cũng là lễ hội lớn nhất của người Jrai, thường được tổ chức vào khoảng thời gian nông nhàn, khi mùa mưa kết thúc. Lễ hội chứa đựng những giá trị độc đáo về nghệ thuật thanh sắc (âm nhạc, múa), hình khối (kiến trúc và điêu khắc) cũng như nghệ thuật ẩm thực và văn học dân gian lễ bỏ mả. Quan trọng hơn, thông qua những nghi thức đó, ứng xử của người sống với người chết được thiêng hóa, khiến việc chôn cất mang dấu ấn tâm linh con người – một trong những khía cạnh của văn hóa. Do đó, trong bài viết, chúng tôi xin bỏ qua phần mô tả lễ bỏ mả và chỉ tập trung làm rõ tính nhân văn trong cách ứng xử đối với người đã mất của người Jrai thông qua lễ hội này. Tính nhân văn đó thể hiện ở các khía cạnh:

NGÀY 30/4/1975 – DI SẢN TINH THẦN GIÀU SỨC SỐNG
Đại thắng mùa xuân 1975 với ngày 30/4 lịch sử đã trở thành mốc son chói lọi trong lịch sử nước nhà, nó không chỉ thể hiện khát vọng tự do cháy bỏng, ý chí anh dũng, kiên cường, mà đã trở thành những di sản tinh thần giàu sức sống góp phần làm phong phú, tôn vinh các tinh hoa văn hoá của dân tộc Việt Nam.
Tiếp nối tinh thần Cách mạng tháng Tám năm 1945 và chiến thắng thực dân Pháp với chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, lực lượng quân đội và nhân dân Việt Nam đã hoàn thành sứ mệnh chiến đấu bảo vệ Tổ quốc bằng chiến thắng oanh liệt trước sự hung hãn của tên sen đầm quốc tế - đế quốc Mỹ và bọn tay sai Ngụy quân - Ngụy quyền. Ngày 30/4/1975 đã trở thành mốc son chói lọi trong lịch sử của dân tộc, đó là khúc khải hoàn ca bất tận của nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp chiến tranh giải phóng. Người trước ngã, người sau đứng lên, đoàn kết toàn dân tộc dấy lên làn sóng mạnh mẽ, đập tan mọi ý chí xâm lược của kẻ thù, là biểu trưng lòng quả cảm, kiên cường, anh dũng của quân và dân ta tạo nên một sức mạnh mới, vươn tới tầm cao mới về ý chí và trí tuệ, đó là một biểu tượng nổi bật về sức mạnh của dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống kẻ xâm lược. 

Lễ cúng đình An Mỹ - giáo dục cháu con uống nước nhớ nguồn
Vào khoảng thập niên đầu thế kỷ 20 (khoảng 1915-1920) một số  người tiên phong từ  miền Trung (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định) lên miền núi để mở đất lập nghiệp và dừng lại xứ Trà Dom tỉnh Pleiku. Trong số các vị tiền hiền đầu tiên có thể kể là: Cụ Nguyễn Mai Lục (ông Cửu Tám); cụ Mai Đồng (xã Điền) cùng quê Bình Định; Cụ Chánh Gõ, cụ Trần Tánh quê ở Quảng Nam, Quảng Ngãi. Thế hệ tiếp theo có các cụ: Trương Trí, Trương Hiệu, Trương Đôn, Nguyễn Đốc, Nguyễn Diêu, Nguyễn Năng… các vị đã có công lập nên Đình An Mỹ.

“Gret” - cháo chuối
Ẩm thực văn hóa Việt Nam phong phú, với muôn hình vạn món, với vô số cách chế biến. Đặc sản của mỗi vùng quê đều có đặc trưng riêng, ẩm thực người Việt từ Bắc tới Nam đều đem lại những thú vị bất ngờ cho du khách. Khi đến với Tây Nguyên, nhiều người nghĩ ngay đến ẩm thực đặc trưng vùng đất này là “ cơm nướng ống, gà nướng than chấm muối é, rượu cần”. Đúng vậy, đó là những món ăn dân gian của đồng bào dân tộc Bahnar, Jrai tại đây. Tuy nhiên, có một món ăn khá lạ mà người viết bài này gặp được trong một lễ bỏ mả tại làng Kép I, xã Ia Mơnông, huyện Chư Păh. Đó là món cháo chuối (Gret).

CỔ VẬT GIA LAI - TIẾNG KÊU TỪ LÒNG ĐẤT
Đối với dân chơi cổ vật, nguồn gốc của đồ cổ luôn được họ quan tâm với những khái niệm: đồ nổi, đồ vớt và đồ đào.
Đồ nổi là những cổ vật được sử dụng truyền đời trong dân gian, nó tồn tại trong sinh hoạt của mỗi gia đình từ lâu đời, đặc điểm của loại này là hiện nay rất hiếm vì những tay săn lùng cổ vật không bao giờ bỏ sót.     Và thứ nữa là vì được dùng lâu đời, nên hầu hết đồ nổi không còn nguyên trạng, thường bị sứt mẻ… do quá trình sử dụng. Những đồ còn nguyên trạng thì giá thành lại rất cao. Vì thế nên hiện nay đồ nổi hầu hết đều nằm trong tay các đại gia cổ vật.

Một số tập tục kiêng cữ và mê tín của người Jrai
Người Jrai chiếm đại đa số trong cộng đồng các dân tộc thiểu số tại Gia Lai và khu vực Tây Nguyên, theo các tài liệu dân tộc học và khảo cổ học tổ tiên của người Jrai từng sống quần tụ nơi có nhiều thác nước, nguồn gốc huyết hệ và cấu tạo thể chất của họ thuộc giống Indonesien, tiếng Jrai thuộc ngôn ngữ Malay – Polynesien. Ở Gia Lai, người Jrai cư trú tập trung tại các huyện: Ayun Pa, Krông Pa, Chư Prông, Chư Păh, Ia Grai và TP. Pleiku…Là một trong hai dân tộc lớn  nhất tại khu vực Tây Nguyên, họ có ý thức rõ về địa vực cư trú và sự sự tác động của nhất định đối với đời sống văn hóa của các dân tộc khác trong khu vực. 

“3B” TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, hàng ngàn chiến sỹ đã xếp bút nghiên lên đường theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Những chiếc xe, những cánh tay vẫy chào nhau tạm biệt, những khuôn mặt rạng ngời “hẹn gặp tại chiến trường B”, hẹn gặp trong ngày thống nhất. Không ít người đã mãi mãi nằm lại trên chiến trường B, một phần của đất mẹ Việt Nam. Tôi cũng như các bạn trẻ hiện nay chỉ hiểu sơ sơ là Chiến trường B là chiến trường miền Nam, chứ thật sự chưa hiểu hết sự phân chia khu vực của chiến trường này. Theo tôi được biết, trong lịch sử ký hiệu chiến trường của quân đội nhân dân Việt Nam về chiến trường miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào gọi là chiến trường B, và quy định từng vùng có ký hiệu B theo số, từ B1 đến B5 cụ thể là:
- B1: Chiến trường quân khu V, gồm các tỉnh Quảng – Đà (ngày nay bao gồm các tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà)
- B2: Chiến trường Quân khu 6, 7, 8, 9 (gồm các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long).
- B3: Chiến trường Tây Nguyên.
- B4: Chiến trường Bình Trị Thiên - Huế.
- B5: Mặt trận giới tuyến 17 và tỉnh Quảng Trị.

BỘ CHIÊNG M’LEM
Gia Lai là một vùng văn hóa với một kho tàng nhạc khí được chế tác bằng kim loại rất đồ sộ trong đó có cồng chiêng.
Cồng chiêng có một giá trị đặc biệt trong đời sống của cư dân bản địa. Ở Gia Lai trước đây nhà nào cũng có một vài bộ cồng chiêng, có nhà hàng chục bộ. Có những bộ chiêng trị giá 20- 30 con trâu. Cồng chiêng biểu hiện cho sự giàu có và hùng mạnh. Vượt ra ngoài những yếu tố về âm nhạc, về tinh thần chúng là niềm tự hào của mỗi gia đình và của cả cộng đồng. Bởi cồng chiêng và âm nhạc cồng chiêng gắn bó với vòng đời người và đồng bào các dân tộc đã sử dụng theo hình thức cha truyền con nối.

Ẩm thực ngày lễ tết của người Tây Nguyên
Ẩm thực truyền thống mùa lễ tết của người Tây Nguyên đã trở thành đặc sản có sức hấp dẫn, thu hút và mời gọi du khách cùng các lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc mỗi dịp xuân về. Không như người Kinh ăn tết cổ truyền vào tháng giêng âm lịch, các dân tộc ở Tây Nguyên thường ăn tết vào thời điểm giao thoa giữa hai mùa mưa và mùa khô, đây là thời điểm chuẩn bị cho vụ mùa tiếp theo trong năm và cũng là thời điểm tốt nhất để tổ chức các lễ hội tạ ơn các thần linh đã giúp đỡ cho mùa màng bội thu và cầu cho vụ mùa gieo hạt mới được mưa thuận gió hòa, lúa bắp đầy nương.

Nay Đer - nhà trí thức cách mạng đầu tiên của đồng bào dân tộc Gia Lai
Không phải vô lý mà nhiều nhà nghiên cứu đã coi chữ viết là một trong các tiêu chí để xác định một xã hội đã đạt đến trình độ văn minh hay chưa. Đối với những cư dân sinh sống lâu đời ở Gia Lai, thì sự ra đời của chữ viết Jrai do thầy giáo Nay Đer cùng các đồng nghiệp người Pháp sáng tạo nên, đã thật sự tạo ra một bước ngoặt trong đời sống tinh thần, góp phần nâng cao trình độ dân trí cho đồng bào dân tộc, mức độ nhận thức của người dân được nâng lên, tạo nên sự tiến bộ và đưa đến những chuyển biến quan trọng trong xã hội cư dân đồng bào các dân tộc nơi đây. 

Displaying results 61-70 (of 91)
 1 - 2 - 3 - 4 - 5 - 6 - 7 - 8 - 9 - 10 
bieutuongdulich-(2).png




Copyright © 2012 Bản quyền thuộc về Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai
Phát triển bởi Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Gia Lai.
Chịu trách nhiệm: Phan Xuân Vũ - Giám đốc Sở, Trưởng Ban biên tập
Điện thoại:  0269.3824399  -  Fax:  0269.3715058
Email: vhttdlgialai@gmail.com (nhận tin bài)
hoặc svhttdl@gialai.gov.vn (nhận công văn)
Giấy phép số: 06/GP-TTĐT Ngày 01 tháng 7 năm 2016  của Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Gia Lai.