Câu chuyện về nghệ nhân tạc tượng gỗ dân gian Bahnar ở Gia Lai
Hoàng Thị Thanh Hương[1]
         
Nghệ thuật điêu khắc gỗ của người Bahnar đã trải qua một quá trình lịch sử phát triển lâu dài. Nổi bật trong nền nghệ thuật điêu khắc gỗ độc đáo và đặc sắc ấy là những pho tượng gỗ. Chỉ bằng những công cụ thô sơ gồm rìu, rựa, dao, các nghệ nhân Bahnar đã làm nên “rừng tượng gỗ” đơn giản về hình khối nhưng lại sống động về biểu cảm. Tượng gỗ đã mang lại vẻ đẹp độc đáo và ngày càng khẳng định giá trị riêng biệt của nó trong kho tàng di sản văn hóa các dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai, trở thành “một trong những nền nghệ thuật điêu khắc gỗ dân gian độc đáo nhất của Việt Nam và Đông Nam Á” [2].
Tuy nhiên, đời sống kinh tế, xã hội hiện nay có nhiều thay đổi, nhất là trong bối cảnh giao lưu hội nhập quốc tế, do nhiều lý do khách quan và chủ quan nên các giá trị văn hóa truyền thống đã và đang có nguy cơ bị mai một, biến mất trong dòng chảy cuộc sống hiện đại trong đó có tượng gỗ dân gian của người Bahnar ở Gia Lai.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi đã đi khảo sát, điền dã, tìm hiểu, phân tích để xác định những vấn đề xung quanh giá trị của tượng gỗ cùng lực lượng nghệ nhân – chủ nhân sáng tạo ra loại hình di sản điêu khắc gỗ dân gian này.


CÁCH LÀM MEN RƯỢU CẦN CỦA DÂN TỘC BAHNAR VÙNG KBANG TỈNH GIA LAI
Rượu cần từ lâu được xem là thức uống tạo nên “cái hồn Tây Nguyên”. Nó tồn tại trong mọi sinh hoạt thường nhật của mỗi gia đình, mỗi buôn làng. Từ nhừng buổi lễ long trọng của cộng đồng (đâm trâu, cúng bến nước…), đến những nghi thức vòng đời của con người (đám cưới, lễ trưởng thành, bỏ mả…), hay như trong những cuộc vui bất tận của sinh hoạt đời thường. Mỗi cộng đồng đều có một cách làm rượu cần riêng, trong đó, men rượu đóng góp phần lớn vào thành công của mỗi loại rượu cần. Nó thể hiện sự độc đáo, khác biệt với các loại rượu của dân tộc Bahnar với các dân tộc khác trên địa bàn tỉnh.

VỀ CÁC ĐẠO SẮC PHONG TẠI ĐÌNH AN LŨY VÀ TÂN TẠO (AN KHÊ, GIA LAI)
TS. Nguyễn Thị Kim Vân
Ths. Nguyễn Hồng Thắng
 
Trước khi người Pháp đặt chân đến Tây Nguyên, An Khê là cửa ngõ quan trọng và gần như độc đạo nối đồng bằng ven biển phía đông với khu vực bắc Tây Nguyên. Nằm ở vị trí địa lý này, nên vùng An Khê cũng là địa bàn được người Kinh (Việt) chọn để định cư sớm nhất trên đất Gia Lai nói riêng, bắc Tây Nguyên nói chung. Cùng với việc hình thành các cộng đồng dân cư, các xóm làng Việt, nhu cầu lập đình để thờ thành hoàng cũng từng bước được hiện thực hóa. Trong số những ngôi đình có mặt sớm ở An Khê, phải kể đến là đình An Lũy và đình Tân Tạo. Đây cũng là hai trong số ít các đình làng trong vùng còn lưu giữ được các đạo sắc phong thần từ thời Nguyễn. 
 

TÊN GỌI CỦA NGÀNH VĂN HÓA QUA CÁC THỜI KỲ
(TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY)
 

Chiếc Gùi của người Jrai
Có thể nói rằng, gùi là một vật dụng không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của người Jrai, luôn tồn tại song hành trong cuộc sống của họ. Vào trong bất cứ ngôi nhà nào của họ đều thấy chiếc gùi. Gùi trang trí nội thất, gùi đi lên nương rẫy, gùi đi giao thương buôn bán... hay cả những khi đi giao lưu buôn làng thì họ cũng mang theo bên mình. Thường thì người phụ nữ mang nhưng khi cần thiết thì người đàn ông cũng mang trên lưng. Gùi có nắp là một loại quý sử dụng như chiếc tủ của người Kinh, chúng dùng đựng khố, váy áo, trang sức, của cải.. những đồ dùng giá trị trong nhà và chỉ để cố định nơi góc nhà. Gùi đi trên nương rẫy thì thường có hai loại, gùi đế thấp dùng để đi trên cạn, còn một loại gùi chúng ta thấy có 4 chân cao họ dùng để đi dưới nước, để đồ ăn trong gùi này sẽ không bị ướt. Gùi cũng được phân biệt gùi nam và gùi nữ; gùi của nữ giới đi trên nương rẫy để đựng rau, hái măng... gùi của nam là một đặc thù về nghệ thuật đan lát, loại gùi này rất khó đan, đòi hỏi sự tỉ mỉ công phu dùng nó như một chiếc ba lô đựng lương thực thực phẩm cung tên hay để đựng thức ăn chim thú nhỏ khi đi săn. Còn một loại gùi phổ biến trong mỗi góc bếp của người dân tộc Jrai, là gùi mắt cáo đan thưa dùng để đi lấy nước và gùi củi.
 

SINH ĐỘNG VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, LỊCH SỬ CỦA CÁC DÂN TỘC TÂY NGUYÊN QUA BỨC PHÙ ĐIÊU
Phù điêu được chạm khắc tinh tế, sinh động qua những hình ảnh nói về đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, lịch sử đấu tranh trong hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của các dân tộc Tây Nguyên và những thành tựu về kinh tế trên các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp… của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên. 
 

LỄ LIH – NÉT VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG TRONG ĐỜI SỐNG NGƯỜI JRAI
Lễ Lih thường do con cháu trong dòng họ làm cho người lớn, khi thấy cha mẹ, ông bà chân đã yếu, mắt đã mờ, con cháu sẽ tổ chức làm lễ Lih với ý nghĩa cầu mong cha mẹ, ông bà sống lâu, khỏe mạnh, người làm lễ thường là một gia đình.
 

Câu chuyện về nghệ nhân tạc tượng ở Chư Pưh
Họ đến từ các làng thuộc 8 xã: Ia Rú, Ia Ròng, Ia Dreng, Chư Don, Ia Phang, Ia Blứ, Ia Le, Ia Hla của huyện Chư Pưh. Người trẻ nhất sinh năm 1986 Siu Ngang ở làng Wái xã Ia Blứ, người già nhất là Siu Viêng già làng plei Puối B xã Ia Le. 25 người, tập trung về trung tâm bồi dưỡng thường xuyên huyện 7 ngày liên tục vừa học lý thuyết vừa thực hành trên gỗ với người truyền dạy - nghệ nhân ưu tú Ksor Hnao, những cuốn vở  dính nhem đất và mạt gỗ, nét bút bi vụng về nhưng được người học kỹ càng ghi chép: tượng gỗ là gì, tượng mồ là gì, giá trị và cách gìn giữ bản sắc văn hóa, các loại tượng, những hình vẽ minh họa… Hỏi chuyện người học tạc tượng, cảm nhận rõ một điều họ yêu văn hóa truyền thống dân tộc Jrai mình, muốn giữ gìn và phát triển nó để khỏi mất dần trong đời sống hôm nay, họ xót xa khi thấy từng ngày, từng tháng người trẻ không còn mặn mà với chính bản sắc văn hóa của dân tộc mình trong sinh hoạt ăn ở đi lại, trang phục, tín ngưỡng… tạc tượng là nghề của người đàn ông, phải thích, phải khéo tay, phải khỏe mạnh mới làm được, đa số họ tin ai biết tạc tượng là do Yang cho, muốn tạc được tượng đẹp thì phải học thầy giỏi, học bạn giỏi. 
 

KIẾN TRÚC NHÀ MỒ, TƯỢNG MỒ GÓP PHẦN LÀM PHONG PHÚ DI SẢN VĂN HÓA CỦA NGƯỜI BAHNAR, JRAI Ở GIA LAI
Di sản văn hóa của dân tộc Bahnar và Jrai là một kho tàng hết sức phong phú, đặc sắc bao gồm cả di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, đó là kết tinh các tinh hoa văn hoá qua nhiều thế hệ của tộc người. Bên cạnh các sinh hoạt cồng chiêng, các kiến trúc nhà rông, nhà sàn, hay những ché rượu cần mang đậm nét đặc trưng thì kiến trúc nhà mồ và tượng mồ là yếu tố quan trọng và không thể thiếu trong việc kết tinh, cố kết cộng đồng để tạo nên một di sản văn hóa làng hết sức đặc sắc và vô cùng phong phú.

MẶT NẠ HÓA TRANG TRONG LỄ HỘI BỎ MẢ BẮC TÂY NGUYÊN
Đối với những người yêu mến vùng đất Bắc Tây Nguyên, lễ hội bỏ mả (pơthi) từ lâu đã được coi là lễ hội hoành tráng nhất trên dãy Trường Sơn; là lễ hội được đông đảo cư dân tại chỗ và khách thập phương chờ mong, săn đón mỗi độ xuân về. Trong muôn vàn nét văn hóa cộng hưởng để làm nên cái lễ hội ngây ngất lòng người ấy, trong bài viết này, tôi quan tâm đến mặt nạ hóa trang với nhiều cách thể hiện và sắc thái khác nhau của người Bahnar và Jrai - bộ phận dân cư quan trọng làm nên bản sắc văn hóa Bắc Tây Nguyên.
 


Displaying results 11-20 (of 89)
 1 - 2 - 3 - 4 - 5 - 6 - 7 - 8 - 9 
bieutuongdulich-(2).png




Copyright © 2012 Bản quyền thuộc về Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai
Phát triển bởi Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông Gia Lai.
Chịu trách nhiệm: Phan Xuân Vũ - Giám đốc Sở, Trưởng Ban biên tập
Điện thoại:  0269.3824399  -  Fax:  0269.3715058
Email: vhttdlgialai@gmail.com (nhận tin bài)
hoặc svhttdl@gialai.gov.vn (nhận công văn)
Giấy phép số: 06/GP-TTĐT Ngày 01 tháng 7 năm 2016  của Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Gia Lai.